Mở đầu
Qua phần lý luận về địa tô , vấn đề mà em cảm thấy tâm đắc nhất đó là phần lý luận về địa tô và điểm nổi bật là địa tô chênh lệch II. Việt Nam là một nước nông nghiệp bởi vậy vấn đề lý luận về địa tô là một vấn đề vần thiết và không thể thiếu trong thời kỳ quá độ CNXH ở Việt Nam . Vận dụng lý luận về, Đảng và nhà nước đã có chính sách giao ruộng đất lâu dài cho nông dân . nhằm khẳng định ,xác lập chế độ công hữu xoá bỏ chế độ tư hữu . Xây dựng chế độ XHCN công bằng văn minh hơn .
Trong khuôn khổ bài viết này em xin trình bày 2 ý
- Một là : Học thuyết địa tô
- Hai là : áp dụng luận điểm của Mác về địa tô vào nền nông nghiệp Việt
Nam.
Với khả năng nhận thức của mình về phần lý luận của địa tô cộng với sự am hiểu nhìn nhận thực tiễn của em còn có rất nhiều hạn chế . Em kính mong các thầy, cô xem xét giúp đỡ ,chỉ ra những khuyết điểm để bài tiểu luận sau được tốt hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn !
Nội dung
I.Học thuyết đia tô
1.1 điều kiên ra đời
Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên , những phát minh lớn mang tính chất thời đại ,những mong muốn xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn . Thực tiễnxây dựng xã hội mới - XHCN làm nảy sinh hàng loạt vấn đề cần được giải quyết , về mặt lý luận mà không có sẵn lời giải đáp từ di sản lý luận của các nhà kinh điển . Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và giải quyết vấn đề kinh tế xã hội lúc bấy giờ , lý luận kinh tế chính trị Mác-Lênin ra đời đã giải quyết được những bức xúc tồn đọng trong quá trình xây dựng XHCN cả về công nghiệp lẫn nông nghiệp .Thành tựu lớn lao mà lý luận Mác- LêNin đã nghiên cứu trong nông nghiệp đó là phần lý luận về địa tô
1.2 Bản chất địa tô 1,2 SĐ trang 246
Giáo trình kinh tế học Mác – Lênin trang 317-318
Địa tô đã xuất hiện từ khi có quyền sở hữu về ruộng đất và là hình thức bóc lột chủ yếu trong xã hội phong kiến . Trong chủ nghĩa tư bản người thực sự canh tác ruộng đất là những người lao động làm thuê , nhà tư bản thuê đất của địa chủ để kinh doanh ,coi nông nghiệp là một lĩnh vực kinh doanh . Số tiền mà nhà TB phải trả cho đị chủ - kẻ sở hữu ruộng đát theo hợp đồng- để được sử dụng rộng đất trong một thời gian nhất định là địa tô TBCN . Cũng như địa tô phong kiến ,cơ sở của địa tô TBCN là quyền sở hữu ruộng đất .Mặc dù có sự giống nhau đó ,nhưngđịa tô TBCN hoàn toàn khác với địa tô phong kiến
Nếu địa tô phong kiến biểu hiện giữa hai giai cấp, trong đó địa chủ bóc lột nông dân, thì địa tô TBCN biểu hiện quan hệ giữa ba giai cấp ; người công nhân làm thuê, nhà TB công nghiệp và địa chủ
Nếu địa tô phong kiến dựa trên sự cữơng bức siêu kinh tế của địa chủ đối với nông dân ,và bao gồm toàn bộ sản phẩm thặng dư. Thì địa tô TBCN dựa trên cơ sở quan hệ kinh tế giữa địa chủ với TB và giữa TB với lao động làm thuê và chỉ là một phần của giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo ra , vì một phần của giá trị thặng dư đã phải chuyển thành lợi nhuận cho nhà TB ( người đầu tư vào nông nghiệp cũng phải thu được lợi nhuận bình quân như mọi lĩnh vực khác . Địa tô TBCN là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch do công nhân nông nghiệp tạo ra và do nhà TB thuê đất nộp cho người sở hữu ruộng đất.
1.3 Hình thức địa tô và ý nghĩa.
Trong tổng số địa tô hay tổng số tiền phải nộp cho địa chủ gồm các bộ phận khác nhau tưc là địa tô chênh lệch . Đia tô chênh lệch bao gồm địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II . Địa tô TBCN có vai trò quyết định đối với nền nông nghiệp nước ta hiện nay mà cơ sở là địa tô chênh lệch II. Đảng và nhà nước đã vận dụng hình thức địa tô vào để sản xuất nông nghiệp , góp phần to lớn vào việc cải tổ , tổ chức và ứng dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp, phát huy ưu thế đồng thời khắc phục những nhược điểm trong nông nghiệp
2.Luận điểm của Mác về địa tô chênh lệch Giáo trình Kinh tế học Mác – Lênin Trang 318 - 319
Khi nghiên cứu về địa tô , trước hết chúng ta phải giả thiết rằng , nông sản cũng phải được bán theo giá cả sản xuất như mọi hàng hoá khác , nghĩa là đảm bảo cho nhà tư bản thu hồi được chi phí sản xuất và thu được lợi nhuận bình quân
Trong nông nghiệp , lợi nhuận siêu ngạch tồn tại thường xuyên và ổn định do :Thứ nhất, trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, nhưng đất đai có hạn đã bị độc chiếm và người ta không thể tạo thêm những điều kiện tự nhiên thuận lợi .Thứ hai, nông phẩm lại là sản phẩm tất yếu không thể thiếu được đói với đời sống con người và xã hội .Bởi vậy người ta không chỉ canh tác trên những khoảnh đất tốt hoặc trung bình mà buộc phải canh tác trên cả những đất sấu hay kém thuận lợi hơn . Do vậy , giá cả thị trường nông phẩm do giá vả ở nơi điều kiện kém thuận lợi quyết định , có như vậy mới đảm bảo cho việc đầu tư vào đất canh tác sấu cũng thu được lợi nhuận bình quân.Do đó tư bản đầu tư vào những đât đai có điều kiện thuận lợi , có năng xuất cao hơn , khi bán theo giá cả sản xuất chung ,ngoài lợi nhuận bình quân, còn thu được lợi nhuận siêu ngạnh để chuyển hoá thành địa tô gọi là địa tô chênh lệnh .
3.Địa tô chênh lệch II Giáo trình Kinh tế học mác – Lênin trang 319-320
Trước hết để phân tích địa tô chênh lệch II ta phải hiểu thế nào là địa tô chênh lệch I. Địa tô chênh lệch I là địa tô thu được trên những ruộng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi bao gồm : độ mầu mỡ của đất đai; vị trí của đất đai xa hay gần nơi tiêu thụ
Nhưng địa tô chênh lệch II đều là lợi nhuận siêu ngạch hình thành do hiệu quả đầu tư khác nhau của những tư bản như nhau . Một đằng do đầu tư trên những thửa ruộng có điều kiện khác nhau (quảng canh) , một đằng do hiệu quả những lần đầu tư khác nhau trên cùng một thửa ruộng(thâm canh) còn giá cả có tác dụng điều tiết thị trường nông sản vẫn do giá cả sản xuất của TB đầu tư có hiệu quả thấp nhất quyết định
Trích từ: http://tailieu.sharingvn.net