I. LỊCHSỬ TRIẾTHỌC PHƯƠNGĐÔNGCỔĐẠI; LỊCHSỬTRIẾTHỌC HY LẠPCỔĐẠI- SỰGIỐNGVÀKHÁCNHAUGIỮACHÚNG.
Lịch sử triết học là môn học mang lại cho người học những hiểu biết mang tính hệ thống về quá trình hình thành và phát triển tư duy Triết học- cơ sở của tư duy lý luận nhân loại. Qua đó, làm phong phúđời sống tinh thần và nâng cao năng lực sử dụng tư duy vào việc giải quyết các vấn đề do nhận thức khoa học và thực tiễn cuộc sống đặt ra. Những học thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII- VI (Tr CN) ởấn Độ cổđại, Trung Quốc cổđại, Hy Lạp và La Mã cổđại vàở một số nước khác.
1. Lịch sử triết học Phương Đông cổđại.
Lịch sử các nền văn minh nhân loại đã cho thấy, thời điểm bắt đầu của Triết học Phương Đông có thể vào khoảng 3000 năm TCN. Trên 3 vùng đất rộng lớn với nhiều dân tộc khác nhau là vùng Trung cận đông, vùng ấn Độ và vùng Trung Quốc. Vùng Trung Cận Đông cách đây 5000 năm đã phát sinh nhiều nền văn minh rực rỡ, tiến bộ nhất lúc bấy giờ. Khoảng trên 300 năm TCN, những thành tựu về Triết học của vùng trung cận đông đã bị chia thành 2 ngả, ngả thứ nhất gia nhập vào văn minh Ba Tư, ngả thứ hai gia nhập vào văn minh Hy Lạp. Phần còn lại bị lãng quên và hoàn toàn không cóđiều kiện nảy sinh trước sự bành trướng, thống trị tuyệt đối của đạo Do Thái và sau nữa làđạo Hồi. Do đó, Triết học Phương Đông từ thời cổđại đến nay chỉ còn nổi bật hai nền Triết học lớn- đó là nền Triết học ấn Độ và nền Triết học Trung Quốc. Hai nền triết học này phát triển rực rỡ vào cuối thời kỳ cổđại vàđầu thời kỳ phong kiến.
a. Triết học ấn Độ cổđại- Lịch sử hình thành và phát triển.
Ấn Độ là một đất nước rộng lớn thuộc bán đảo Nam á bao gồm cả nước Pakixtan, Bănglađét và NêPan ngày nay. Khắp vùng từĐông Bắc và Tây Bắc của ấn Độ cổđại núi non trùng điệp với dãy Himalaya nổi tiếng kéo dài 2.600 km. Dãy núi Vinđya phân chia ấn Độ thành 2 miền Nam và Bắc. Miền Bắc cóhai con sông lớn là sông ấn ở phía Tây và sông Hằng ở phía Đông, chúng tạo nên hai đồng bằng màu mỡ- cái nôi của nền văn minh cổấn Độ. Trước khi đổ ra biển, sông ấn chia làm 5 nhánh và biến lưu vực của mình thành đồng bằng Pungiáp. Đối với người ấn Độ, sông Hằng là dòng sông linh thiêng có thành phố Varanadi bên bờ, nơi đây từ ngàn xưa, người ấn Độ cư hành lễ tắm truyền thống mang tính chất tôn giáo, . Cư dân ấn Độ rất đa dạng và phức tạp với nhiều bộ tộc khác nhau, nhưng về chủng tộc, có hai loại chính là người Đravida cư trú chủ yếu ở miền Nam và người Arya chủ yếu sống ở miền Bắc. Từ trong nền văn minh sông ấn của người bản địa Đraviđa xa xưa, Nhà nước ấn Độ cổđại đã xuất hiện, các ngành nghề nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đã hình thành. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ XIII TCN, thiên tai (lũ lụt trên sông ấn) đã làm cho nền văn minh này sụp đổ. Voà khoảng thế kỷ XV TCN, các bộ lạc du mục Arya ở Trung á xâm nhập vào ấn Độ. Họđịnh canh, định cư và tiến hành quá trình nô dịch, đồng hoá, hỗn chủng với các bộ lạc bản địa Đraviđa. KInh tế tiểu nông kết hợp với thủ công nghiệp gia đình mang tính tự cung, tự cấp lấy gia đình, gia tộc của người Arya làm cơ sở, đã tạo nền tảng vững chắc cho các công xã nông thôn ra đời và sớm được khẳng định.Trích từ: http://tailieu.sharingvn.net